Chán ăn là một chứng bệnh Tỳ Vị thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi sự mất cảm giác ngon miệng kéo dài, có ác cảm với ăn uống thậm chí từ chối ăn uống. Nguyên nhân phát bệnh chủ yếu là do cho ăn không đúng cách, ăn uống không điều độ mà làm cho Tỳ Vị bất hòa, thâu nạp vận hóa thất thường mà gây ra. 
Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, phổ biến là từ 1 đến 6 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ em thành thị cao hơn, phát bệnh không có mùa rõ rệt, nhưng mùa hạ là mùa của thử thấp, khiến cho các triệu chứng nặng hơn. Bệnh nhân ngoài việc chán ăn, các triệu chứng khác không rõ ràng, thông thường trạng thái tinh thần vẫn tốt, tiên lượng bệnh tốt, nhưng quá trình bệnh kéo dài hơn, có thể làm cho khí huyết sinh hóa không đầy đủ, xuất hiện sắc mặt nhợt nhạt, hình thể gầy gò, sức đề kháng kém, dễ bị mắc bệnh, như vậy sẽ chuyển thành bệnh cam.
Biếng ăn không bao gồm nguyên nhân do ngoại cảm, nội thương và mắc một số bệnh mạn tính mà gây ra chán ăn.

Suy dinh dưỡng trong Y học hiện có thể được đề cập đến để biện chứng luận trị.  

[Bệnh nguyên bệnh cơ]

Tỳ chủ vận hóa, vận tức là chuyển nó đến tinh vi, hóa tức là hóa thủy cốc, Tỳ khỏe ắt vận, Tỳ mất kiện vận, ắt Vị không thâu nạp. Trẻ em “Tỳ thường bất túc”, kết hợp với trẻ em ăn uống không thể tự điều chỉnh, ăn uống không biết no đói, hoặc phương pháp cho ăn không đúng cách,…có thể dẫn tới Tỳ mất kiện vận, Vị mất thu nhiếp, mà sinh ra chứng chán ăn, không muốn ăn uống, ăn mà thấy vô vị. Ngoài ra trong thời kỳ cho bú và cho ăn thực phẩm bổ sung, sau khi cai sữa đột ngột thay đổi loại thức ăn, khiến Tỳ Vị không thể thích ứng. Nguyên nhân chủ yếu của bệnh này do ẩm thực không điều tiết, biểu hiện lâm sàng có khác nhau do Tỳ mất kiện vận và thiên về Vị âm bất túc, cơ chế bệnh lý đều thuộc về Tỳ Vị bất hòa, mất chức năng thâu nạp vận hóa.

[Biện chứng luận trị]

Tỳ mất kiện vận

Chủ chứng: Sắc mặt kém nhuận, không muốn ăn uống hoặc ăn mà vô vị, cự tuyệt ăn uống, sau khi ăn vào thì buồn nôn nôn mửa, bụng trướng đau, hình thể gầy gò, dễ ra mồ hôi. Chất lưỡi thiên đạm, rêu trắng mỏng hoặc trắng bẩn.

Pháp trị: Điều hòa Tỳ Vị, kiện Tỳ trợ vận.

Phương thuốc:  Bất hoán kim chính khí tán gia giảm. Người rêu lưỡi trắng bẩn, gia thêm Bán hạ, Bội lan; Chất lưỡi vàng bẩn, gia Ý dĩ nhân, Thanh cao; Bụng trướng đại tiện khô, gia Chỉ thực, Hậu phác; Đại tiện lỏng gia Hoài sơn dược, Tiêu kiến khúc; Ăn sữa vào không chuyển hóa gia Mạch nha, Lai bặc tử.

Tỳ Vị khí hư

Chủ chứng: Không muốn ăn uống, ăn ít, ngại nói, tinh thần ủ rũ, sắc mặt vàng héo, hình thể gầy gò, đại tiện kiêm có cặn bã, hoặc không thành khuôn, dễ ra mồ hôi. Chất lưỡi đạm, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch tế vô lực.

Pháp trị: Kiện Tỳ ích khí.

Phương thuốc: Sâm linh bạch truật tán gia giảm. Rêu lưỡi trắng bẩn, gia Thương truật, Biển đậu; bụng đầy trướng, gia Mộc hương, Hương phụ; đại tiện lỏng nát, gia Ổi khương, Ích trí nhân; thủy không muốn hóa, gia Hoài sơn dược, Tiêu sơn tra; ra mồ hôi nhiều dễ bị cảm, gia Hoàng kỳ, Phòng phong.

Tỳ âm bất túc

Chủ chứng: miệng khát mà uống nhiều nước, không muốn ăn, sắc mặt vàng tối, da không nhuận, tiểu tiện sắc vàng, đại tiện khô kết. Rêu lưỡi ít hoặc nhẵn mất rêu (không rêu), lưỡi đỏ hơi khô.

Pháp trị: Dưỡng vị dục âm.

Phương thuốc: Dưỡng Vị tăng dịch thang gia giảm. Tỳ khí bất túc, gia Hoài sơn dược, Biển đậu; Miệng khát muốn uống, gia Thiên hoa phấn, Lô căn; Đại tiện táo kết, gia Hỏa ma nhân, Qua lâu nhân; Âm hư nội nhiệt, gia Đan bì, Tri mẫu; Đêm ngủ không yên, gia Toan táo nhân, Tâm sen.

[Phương pháp điều trị khác]

  • Chế phẩm Đông y thường dùng

Tiểu nhi hương quất đơn (小儿香橘丹), mỗi lần 1 hoàn, ngày 2 – 3 lần, dùng trong chứng Tỳ mất kiện vận; Nhi khang ninh khẩu phục dịch (儿康宁口服液), mỗi lần 10ml, ngày 3 lần, dùng trong chứng Tỳ Vị khí hư.

  • Liệu pháp châm cứu

Châm Tứ phùng, sau 3 ngày lặp lại 1 lần, hoặc châm bình bổ bình tả Trung quản, Hạ quan, Tỳ du; ngải cứu Túc tam lý mỗi ngày 1 lần.

Chăm sóc phòng ngừa

  1. Chú ý điều tiết ăn uống, nắm vững các phương pháp cho ăn đúng đắn. Đối với bệnh nhân tiên thiên bất túc hoặc bệnh hậu thiên hậu tỳ nhược bất vận, cần tăng cường ăn uống, điều chỉnh bằng thuốc.
  2.  Điều trị chán ăn không nên chỉ phụ thuộc vào mỗi việc dùng thuốc, càng không thể sử dụng tùy tiện đồ bổ, thuốc bổ. Để sửa thói quen ăn uống xấu, ăn ít đồ ăn ngọt béo, thực phẩm lạnh và cứng.
  3. Thức ăn không cần nghiền quá mịn, ăn nhiều rau và ngũ cốc.

Bệnh này nên phân biệt với thực tích, chú hạ (trẻ con mùa hè đau ốm). Thực tích là sữa và thức ăn đình tích trong bụng mà dẫn đến, ngoài việc không muốn ăn uống, không nghĩ đến thức ăn khác ngoài sữa, còn có ợ lên mùi chua thối, đại tiện chua hôi thối, quản phúc trướng đau, có bệnh sử thương thực. Chú hạ thì không muốn ăn uống là chủ chứng, phát bệnh có tính thời tiết, có đặc điểm lâm sàng “xuân hạ kịch”, “thu đông sái” (sái: khỏi bệnh), kiêm toàn thân mệt mỏi vô lực, có bệnh sử thương thực.

Tài liệu tham khảo: Trung y học. Bắc kinh. Lý Điền Quý chủ biên. Nhà xuất bản nhân dân vệ sinh, 2003.